Hành trình dùng thuốc trị bệnh do vi-rut gây ra

cũng như , chúng có khả năng gây bệnh cho người, thậm chí bệnh rất nặng, nguy hiểm đến tính mạng. Vi-rut còn có khả năng nằm ẩn mình vài năm trong tế bào trước khi phát bệnh.

Từ lâu, con người đã tìm nhiều loại vi khuẩn và vi rút gây bệnh. Tuy nhiên, để tiêu diệt vi khuẩn, có nhiều loại kháng sinh được sử dụng nhưng những loại kháng sinh này không thể các bệnh nhiễm khuẩn do vi rút gây ra.

Kháng sinh tiêu diệt vi khuẩn ra sao?

Năm 1928, tại Bệnh viện Saint Mary (London, Anh), Alexander Fleming phát hiện ra chất kháng sinh diệt khuẩn và đặt tên là penicillin. Loại kháng sinh này được tìm ra từ nấm Penicillium notatum. Sau đó có rất nhiều nhà nghiên cứu về kháng sinh penicillin và đến năm 1943, dự án sản xuất penicillin được Chính phủ Mỹ chấp nhận và từ đây kháng sinh penicillin chính thức ra đời, cứu sống được vô vàn người mắc bệnh nhiễm khuẩn.

Từ penicillin, nhiều nhà nghiên cứu đã tìm tòi ra vô vàn các loại kháng sinh khác nhau và đã xếp chúng thành nhiều nhóm dựa vào cấu tạo và cơ chế tác dụng đối với vi khuẩn.

Về mặt cấu tạo thì vi khuẩn là một tế bào hoàn chỉnh, có khả năng sống riêng biệt và phát triển không phụ thuộc vào tế bào túc chủ. Mỗi thành phần trong cấu trúc tế bào vi khuẩn có cấu tạo thích hợp trở thành “đích tác động” cho kháng sinh nhắm đến, gắn vào và cho tác dụng.

Dựa vào đặc tính này người ta nghiên cứu từng loại kháng sinh tác động vào một trong các thành phần của tế bào vi khuẩn làm cho vi khuẩn không phát triển và không tồn tại được. Mỗi một nhóm kháng sinh có tác dụng khác nhau lên vi khuẩn và nhiều loại kháng sinh có tác dụng hiệp đồng.

Ví dụ, kháng sinh penicilin và các loại thuốc cùng họ của nó sẽ tạo thành một lớp bao quanh tế bào không cho việc trao đổi chất giữa môi trường và vi khuẩn xảy ra hoặc với vai trò của tetracylin hay erythromycin thì chúng có tác dụng ngăn cản quá trình tạo ra các protein mới của vi khuẩn. Một số loại kháng sinh khác ngăn cản quá trình sao chép acid nucleic (ADN), một số khác ngăn cản khả năng hấp thụ dưỡng chất và phát triển của vi khuẩn. Do vậy, phần lớn các bệnh gây ra bởi vi khuẩn đều có thể chữa được bằng các loại kháng sinh. Tuy nhiên, nếu sử dụng kháng sinh bừa bãi sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn kháng thuốc.

Vi-rut sống ký sinh trong tế bào

Cấu tạo vi-rut hoàn toàn khác biệt và đơn giản hơn rất nhiều so với tế bào vi khuẩn. Nó chỉ chứa một loại axit nucleic (DNA hoặc RNA) bao quanh là lớp vỏ protein chứa nhiều kháng nguyên, vì vậy được gọi là “phi tế bào”. Do cấu tạo đặc biệt, vi-rut không có hệ thống enzym hoàn chỉnh nên không thể tự tạo ra năng lượng cho mình hoặc tự sinh sôi nảy nở được nên vi-rut bắt buộc phải sống ký sinh bên trong tế bào khác (tế bào túc chủ) mà nó xâm nhiễm. Do đó, để tồn tại và phát triển thì vi-rut phải xâm nhập vào trong tế bào túc chủ và “gửi” các vật liệu di truyền của mình.

Khi vào cơ thể, áo protein bị loại bỏ, chỉ hoạt động bởi ARN hoặc ADN của nó, không có cách gì để nhận biết. Kháng sinh diệt được vi khuẩn vì vi khuẩn ký sinh ngoài tế bào, còn vi-rut nằm trong vật chất di truyền của tế bào túc chủ cho nên nếu kháng sinh diệt vi-rut thì đồng nghĩa với diệt cả tế bào của túc chủ (người hoặc động vật). Vì vậy, nếu thuốc kháng sinh muốn tấn công vi-rut sẽ phải biết chọn lọc không tấn công vào các bộ phận “tầm gửi” này (tức là không tấn công vào tế bào túc chủ) và đây thực sự là cản trở cực lớn. Hơn thế nữa, vi-rut còn có khả năng nằm ẩn mình vài năm trong tế bào trước khi phát bệnh.

Thay vì dùng kháng sinh không có tác dụng đối với vi-rut, các nhà khoa học đã nghiên cứu thành công một số thuốc diệt vi-rut dựa trên cơ sở sự hiểu biết về cấu trúc và cơ chế xâm nhiễm, nhân lên trong tế bào túc chủ của vi-rut. Tuy vậy, vi-rut luôn thay đổi hình dạng và do đó luôn có khả năng kháng lại thuốc, đó là những điều bất lợi cho việc dùng thuốc tiêu diệt chúng. 8